Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn – Câu thơ đặc sắc của bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương Utphighschools.Vn

Thơ 0 lượt xem

Đêm khuya có gác trống. là một câu thơ độc đáo của bà chúa thơ Hồ Xuân Hương. Bà là một nữ sĩ nổi tiếng của nước ta, được nhiều độc giả yêu mến bởi lối thơ độc đáo, táo bạo. Vì vậy, Hồ Xuân Hương được coi là một hiện tượng thú vị của thơ ca cổ điển Việt Nam khi chủ động đưa ra quan điểm trái với luân thường đạo lý, nhưng không vì thế mà trở nên tự ti. Bài thơ là nỗi lòng của bà trước bi kịch tuổi trẻ và thể hiện khát vọng sống, hạnh phúc mãnh liệt của bà. Chỉ khi đọc bài thơ, chúng ta mới hiểu được tâm tư tình cảm của bà. Hãy cùng chờ đón!

Tiếng canh khuya vọng lại từ tiếng trống canh dồn dập trong góc.
Bỏ mặt hồng hai bên non.
Một chén hương đưa cơn say trở lại tỉnh táo
Trăng lưỡi liềm chưa tròn
Chọc đất lông thành chùm
Phá vỡ chân mây và đá
Chán xuân lại xuân
Một phần tình yêu của một đứa trẻ

Bài thơ mở đầu bằng một hoàn cảnh tâm trạng khá điển hình:

“Đêm khuya lính canh đánh trống
Chưa có kinh nghiệm về nước ngọt “

Thường thì ở giữa một không gian bao la và rộng lớn người ta cảm thấy mình nhỏ bé và cô đơn. Ở đây Xuân Hương lại thấy cô đơn trước mắt. Thời gian cũng không có bắt đầu và không có kết thúc, nhưng nếu không gian chỉ đủ để làm con người kinh hãi, thì thời gian cũng hủy hoại những gì nó đi qua.

Câu đầu của bài thơ thật sôi động. Nỗi buồn bởi sự tĩnh lặng của đêm. Âm thanh của trống không gần (vang), nhưng bạn vẫn có thể nghe thấy nhịp đập nhanh, gấp gáp, điều này là do âm thanh của trống làm cho hết thời gian, gợi ý sự phá hủy và đó là âm thanh trống được cảm nhận bởi khí sắc. Chính vì vậy mà trong nhịp điệu nhanh, liên tục của tiếng trống ta như nghe được cả nhịp độ thời gian gấp gáp lẫn sự bối rối trong tâm trạng của nhân vật trữ tình.

READ  Tiểu sử và cuộc đời sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm Utphighschools.Vn

Câu thơ thứ hai khiến thân phận bẽ bàng càng thêm mãnh liệt:

“Mặt xấu hồng sắc nước non”

Phép đảo ngữ dường như cố tình làm sâu sắc thêm tâm trạng bẽ bàng. “Trơ” là xấu hổ, vô cảm, thiếu cảm giác. Ngoài ra, hai chữ “đỏ mặt” (ám chỉ khuôn mặt thiếu nữ) đi với chữ “the”, thật là rẻ rúng và mỉa mai. Cái “mặt đỏ au” trơ ra nước non không chỉ gợi mỡ mà có lẽ đậm hơn, có lẽ, kèm theo vị đắng. Câu thơ chỉ nói lên vẻ đẹp của dung nhan mà còn gợi ra số phận của chủ thể trữ tình. Thật chua xót, thật buồn. Nhịp điệu của câu thơ 1/3/3 cũng vậy, vừa phê phán, vừa khắc sâu nỗi tủi nhục khôn tả.

Tuy nhiên, đoạn thơ không chỉ nói về nỗi đau mà còn thể hiện sự dũng cảm của nhân vật trữ tình. Sự dũng cảm này được thể hiện qua chữ “trơ” như một thử thách. Từ “trơ” kết hợp với “nước non” tượng trưng cho lòng dũng cảm và thử thách. Điều này khiến ta liên tưởng đến một câu thơ của Bà Huyện Thanh Quan trong bài thơ Thăng Long thành hoài (“Đá còn trơ, trăng đã già”).

Nếu hai câu phải hướng người đọc vào hoàn cảnh thì hai câu đã nói rõ thực trạng, thực tại của Hồ Xuân Hương:

“Một ly hương làm cho cơn say trở lại tỉnh táo,
Trăng khuyết chưa tròn ”.

Thời gian không ngừng trôi và dường như nhân vật trữ tình cũng ngồi một mình trước cảnh khuya và trăng lạnh. Cảnh ái ân của Xuân Hương được thể hiện qua một hình ảnh chứa đựng hai bi kịch: trăng sắp tàn (bóng xế xế chiều) mà còn “dang dở”, ai cũng biết, người ta đã tìm cách làm trọn vẹn. Rượu thơm chỉ gây thêm nỗi cô đơn, tủi nhục cho những thân phận bạc bẽo. Cụm từ “lại say” gợi lên một vòng luẩn quẩn nơi tình yêu trở thành trò đùa của một đứa trẻ.

READ  Thơ Đêm Buồn Nhớ Người Yêu Với Những Cảm Xúc Cô Đơn & Buồn Bã Utphighschools.Vn

Hình ảnh thiên nhiên trong cả hai câu dường như cũng mang theo nỗi uất hận của con người:

“Mặt đất méo mó, rêu thành từng đám,
Đập chân mây, đá mấy hòn ”.

Những sinh vật bé nhỏ như những đám rêu này, nhưng chúng vẫn không chịu được số phận nhỏ bé, khiêm nhường, không muốn yếu đuối. Mọi người như muốn dứt hẳn ra đi: rêu phải mọc “xiên xẹo trên mặt đất”, đá cứng lại phải cứng và bén nữa mới “gãy chân mây”. Biện pháp nghệ thuật đảo ngữ càng nhấn mạnh nỗi buồn của đá, của rêu, cũng như tâm trạng uất hận của con người. Cùng với phép đảo ngữ là sự kết hợp của các động từ mạnh {xiên, xỏ) với các phép bổ sung độc đáo (ngang, chia) thể hiện rõ sự kiên trì, ngoan cố. Bài thơ tràn đầy sức sống. Có thể nói, trong những hoàn cảnh éo le nhất, thơ Hồ Xuân Hương vẫn chứa đựng một sức sống và khát vọng mãnh liệt.

Hai câu kết là sự chán chường và buồn bã:

“Ta lại chán xuân thanh xuân,
Một mảnh tình để chia sẻ một chút! “

“Chán” là chán, là chán. Nhưng tại sao? Xuân Hương mệt mỏi với cuộc đời buồn tủi, tủi hổ, bởi mùa xuân đến rồi mùa xuân lại đến, thiên nhiên cứ vờn quanh một vòng buồn tẻ như chuyện tình của con người.

Từ xuân vừa là xuân vừa dùng để chỉ tuổi xuân. Với thiên nhiên, xuân đi rồi xuân lại, nhưng với con người, xuân qua không bao giờ trở lại. Đây là sự khắc nghiệt của thiên nhiên. Hai chữ “lại” trong câu “xuân lại xuân” cũng có hai nghĩa khác nhau. “Một lần nữa” đầu tiên có nghĩa là thêm một lần nữa, trong khi “một lần nữa” thứ hai có nghĩa là quay trở lại. Mùa xuân đã về, nhưng mùa xuân đi qua, đây chính là cội rễ sâu xa của sự buồn chán này.

READ  1001 bài thơ tình 8 chữ hay viết về tình yêu & nỗi nhớ Utphighschools.Vn

Ở câu thơ cuối, nghệ thuật tiến bộ càng làm cho nỗi bất hạnh của người anh hùng trữ tình trở nên đáng xấu hổ hơn: một mảnh tình – chung – một – con. Mảnh tình – vốn đã nhỏ, đã nhỏ, đã không trọn vẹn lại phải “san sẻ” nên hầu như chẳng còn gì (con nhỏ) nên càng thêm thảm hại. Câu ca dao nói lên nỗi lòng của người phụ nữ trong xã hội xưa, khi cảnh vợ chồng son không hề xa lạ với họ.

Bi kịch trong bài thơ là bi kịch của tuổi trẻ, của số phận, Xuân đi rồi xuân về, thời gian của thiên nhiên, của đất trời tiếp nối vòng quay, nhưng tuổi trẻ của con người thì kéo dài mãi không quay lại. Trong hoàn cảnh này, bất ngờ, tình yêu dang dở càng làm tăng thêm tiếc nuối. Trong hoàn cảnh này, nhiều người không tránh khỏi tuyệt vọng, thậm chí bỏ rơi, buông xuôi. Tuy nhiên, Xuân Hương không như vậy, trong số phận trớ trêu, người phụ nữ luôn khát khao hạnh phúc, vẫn vất vả, vẫn muốn chống chọi với sự tàn nhẫn của những đứa con thơ. Cuộc kháng chiến và khao khát này ở Hồ Xuân Hương đã mang một ý nghĩa nhân văn sâu sắc đối với tác phẩm.

Bài thơ Cảnh khuya của Hồ Xuân Hương đã cho ta thấy một phong cách thơ mới lạ và độc đáo của bà. Qua bài thơ ta hiểu được tình cảm của bà qua thời gian, đồng thời thể hiện niềm lạc quan và khát vọng hạnh phúc cháy bỏng của bà. Cảm ơn bạn đã đọc bài viết của chúng tôi!

Bài viết liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Protected with IP Blacklist CloudIP Blacklist Cloud